Tiến bộ trong học tập, dinh dưỡng và sự tồn tại của bất bình đẳng ở trẻ em

  • Date: 15 Aug 2015
  • Series:
  • Author: Nguyễn Thị Thu Hằng

(ĐCSVN) – Kết quả điều tra của Chương trình nghiên cứu Những cuộc đời trẻ thơ tại Việt Nam cho thấy, trong 11 năm qua đã có những tiến bộ rõ rệt về học tập và dinh dưỡng của trẻ em mặc dù vẫn tồn tại những khoảng cách giữa nhóm trẻ dân tộc thiểu số và nhóm trẻ thuộc hộ nghèo so với những trẻ thuộc hộ gia đình khá giả.

Chương trình nghiên cứu Những cuộc đời trẻ thơ (CTNCNCĐTT) là Nghiên cứu quốc tế về nghèo trẻ em kéo dài 15 năm, bắt đầu từ 2002, tại 4 quốc gia - Ấn Độ, Ethiopia, Peru, và Việt Nam do đại học Oxford, Anh điều phối thực hiện. Tại mỗi quốc gia, nghiên cứu theo dõi 3.000 trẻ em, gồm 2.000 trẻ sinh 2001- 2002 và 1.000 trẻ sinh 1994 - 1995. 

Chương trình nghiên cứu, so sánh hai nhóm trẻ 12 tuổi vào năm 2006 và 2013. Kết quả cho thấy: Về học tập, tiến bộ thể hiện qua một vài khía cạnh. Đầu tiên là kết quả học tập - so sánh kết quả bài kiểm tra toán giống nhau của trẻ 12 tuổi làm năm 2006 và 2013 cho thấy, điểm số tăng tương ứng từ 80,5 lên 83,2/100. Thứ hai, số lớp học trung bình của trẻ 12 tuổi năm 2013 đạt 5,9 – cao hơn 0,3 lớp so với năm 2006. Tỷ lệ nhập học cũng tăng từ 96,6% lên 97,5%. Đặc biệt, nhóm trẻ dân tộc thiểu số (DTTS) có tiến bộ vượt bậc. Khoảng cách về điểm số trung bình của trẻ DTTS so với trẻ dân tộc Kinh trong bài kiểm tra toán cùng đề đã thu hẹp 8 điểm phần trăm. Số lớp học trung bình của trẻ DTTS tăng từ 4,7 lên 5,6. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại khoảng cách. Năm 2013, chỉ có 88,4% trẻ DTTS 12 tuổi được đến trường so với 99% trẻ dân tộc Kinh cùng tuổi, tỷ lệ đi học của trẻ thuộc hộ nghèo nhất và trẻ thuộc hộ khá giả tương ứng là 93,7% và 99,7%.

Về dinh dưỡng cũng ghi nhận những tiến bộ đáng kể đối với trẻ 12 tuổi. Chiều cao của tất cả các nhóm trẻ 12 tuổi đã tăng lên khi so sánh hai nhóm trẻ sinh 2001 - 2002 và 1994 - 1995 tại thời điểm năm 2006 và 2013. Tỷ lệ thấp còi của trẻ 12 tuổi đã giảm từ 33% năm 2006 xuống 20% năm 2013. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cũng giảm nhẹ từ 17% xuống 14%. Nhưng bên cạnh những tiến bộ này, một lần nữa sự bất bình đẳng theo tình trạng kinh tế lại được ghi nhận. Năm 2013 chỉ 9% trẻ thuộc gia đình khá giả bị thấp còi, so với 31% trẻ thuộc hộ nghèo và chỉ 14% trẻ dân tộc Kinh bị thấp còi so với 52% trẻ DTTS. Trong khi đó, số trẻ DTTS bị suy dinh dưỡng gầy còm lại tăng từ 8,3% năm 2006 lên 11,7% năm 2013. Như vậy tình trạng suy dinh dưỡng ngày càng có xu hướng tập trung nhiều hơn ở nhóm trẻ yếu thế.

Rõ ràng dù có tiến bộ nhưng trẻ thuộc hộ gia đình nghèo và DTTS đều có những chỉ số về học tập và dinh dưỡng, sức khoẻ kém hơn so với nhóm trẻ thuộc hộ khá giả. Trong khi đó, học vấn cao hơn khả năng tìm được việc ổn định cũng cao hơn. Trong số các em 19 tuổi của CTNCNCĐTT đã đi làm có 66 em có hợp đồng làm việc trên 6 tháng đã tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc phổ thông, nhưng chỉ có 8 em không có bằng cấp gì được ký hợp đồng làm việc tương tự. Hơn nữa, theo nghiên cứu, sức khoẻ của trẻ khi còn nhỏ có ảnh hưởng lớn đến khả năng tìm việc và kiếm thu nhập sau này.

Như vậy, giáo dục không đầy đủ và thể chất kém ảnh hưởng đến cơ hội của trẻ khi tham gia vào thị trường lao động và thu nhập của các em lúc trưởng thành dẫn đến vòng luẩn quẩn đói nghèo. Hơn nữa, nghiên cứu gần đây của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho thấy bất bình đẳng thu nhập có tác động tiêu cực đến tăng trưởng.

Vì vậy, để thoát nghèo và tăng trưởng bền vững cần hạn chế bất bình đẳng ngay từ giai đoạn thơ ấu của trẻ, nhất là trong giáo dục và dinh dưỡng. Để làm được như vậy cần tạo cơ hội tiếp cận giáo dục có chất lượng cho tất cả trẻ em và tạo điều kiện để trẻ không bỏ học sớm. Những chính sách hỗ trợ dinh dưỡng cho trẻ giai đoạn đầu đời, là thời gian quan trọng nhất đối với phát triển nhận thức và thể lực của trẻ sau này, cần được duy trì cho nhóm trẻ DTTS và trẻ nghèo./.

Nguyễn Thị Thu Hằng (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam)