Kết quả nghiên cứu và số liệu

Kết quả nghiên cứu

Vòng khảo sát lần thứ nhất được thực hiện năm 2002, lần thứ hai vào cuối năm 2006 và lần thứ ba năm 2009, khi nhóm trẻ nhỏ ở độ tuổi 7-8 và nhóm lớn ở độ tuổi 14-15. Năm 2009 cũng chính là thời điểm nhóm trẻ nhỏ ở cùng độ tuổi với nhóm trẻ lớn ở vòng khảo sát thứ nhất. Hai vòng khảo sát cuối sẽ được thực hiện vào năm 2013 và 2016.

Kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế trước và trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21 đã mang lại những thay đổi rất rõ ràng về phát triển thể chất cho trẻ em Việt Nam. Tuy nhiên, sự cải thiện tương ứng đã không xảy ra ở khía cạnh học vấn của trẻ trong Chương trình nghiên cứu.  Thực tế là đã có sự bất bình đẳng đáng kể giữa các nhóm trẻ.

Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu chính đã được ghi nhận trong quá trình thực hiện chương trình nghiên cứu:

  • Phát triển về thể chất: Tăng trưởng kinh tế trước và trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21 đã mang lại những thay đổi rất rõ ràng về phát triển thể chất cho trẻ em Việt Nam, tuy vẫn còn tồn tại tình trạng bất bình đẳng đáng kể giữa các nhóm trẻ. Kết quả nghiên cứu vòng 1 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ ở nông thôn cao gấp đôi thành thị, và trong số trẻ nông thôn, tỷ lệ suy dinh dưỡng nặng của trẻ thuộc các hộ nghèo cao gấp đôi tỷ lệ này trong nhóm trẻ thuộc các hộ khá giả.  Các nghiên cứu sau vòng 3 cho thấy có chưa đến một nửa số trẻ đã từng được bị còi lùn lúc 1 tuổi thoát khỏi tình trạng này lúc 8 tuổi, trong khi chưa đến 10% số trẻ không thuộc dạng còi lùn lúc 1 tuổi lại trở thành còi lùn ở tuổi 8.  Nói chung, suy dinh dưỡng trong vài năm đầu đời thường để lại hậu quả lâu dài trong sự phát triển cả về thể chất cũng như khả năng nhận thức của trẻ. Những kết quả nghiên cứu gần đây, sử dụng số liệu của Chương trình nghiên cứu Những Cuộc đời Trẻ thơ nói chung và ở Việt Nam nói riêng gợi ý rằng chính sách can thiệp trong những năm sau 18 tháng tuổi vẫn có tác dụng giảm nhẹ mức độ còi lùn và có tác dụng khắc phục những khiếm khuyết về khả năng nhận thức gây ra bởi tình trạng còi lùn thời kỳ trước 18 tháng tuổi.
  • Sử dụng vốn thời gian của trẻ: Trong các vòng 2 và 3, các nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thời gian của trẻ vào các lớp học thêm nói chung là không hợp lý, mang lại rất ít lợi ích cho sự phát triển vốn con người.  Bằng chứng của Chương trình cho thấy một số yếu kém của các trường phổ thông của Việt Nam trong việc trang bị những kỹ năng cần thiết cho trẻ lớn lên gia nhập nền kinh tế công nghiệp hiện đại mà Việt Nam đang hướng tới. Có sự bất bình đẳng đáng kể giữa các nhóm dân cư trong tiếp cận giáo dục chất lượng. Chất lượng giáo dục cùng với một số đặc điểm kinh tế-xã hội của hộ gia đình là nguyên nhân của tình trạng bỏ học không giảm trong những năm thực hiện nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rõ vai trò học vấn của người mẹ trong quá trình phát triển của trẻ. Học vấn của bé gái chính là một yếu quan trọng để phá vỡ vòng luẩn quẩn đói nghèo truyền lại từ thế hện này sang thế hệ khác.

 

Các kết quả nghiên cứu được thể hiện cụ thể trong các báo cáo quốc gia và các bài nghiên cứu chuyên sâu. Để tìm hiểu thêm về các kết quả nghiên cứu và ấn phẩm của chương trình, xin vui lòng tham khảo danh mục Ấn phẩm để biết thêm chi tiết.

Báo cáo quốc gia và tóm tắt kết quả nghiên cứu của chương trình

Hiện nay phần lớn các ấn phẩm nghiên cứu của chương trình chỉ được thực hiên bằng tiếng Anh.

Lê Thúc Dục, Nguyễn Thắng, Nguyễn Văn Tiền, Mai Thuý Hằng, Vũ Thị Thu Thuỷ (2011), Trẻ em lớn lên như thế nào trong thiên niên kỷ mới: Khảo sát vòng 3 tại Việt Nam, Báo cáo quốc gia vòng 3, tháng 9/2011 (PDF file 1.3 MB)

Lê Thúc Dục, Nguyễn Phương Ngọc, Trần Minh Châu, Nguyễn Văn Tiền, Võ Thanh Sơn  (2008), Chương trình nghiên cứu “Những cuộc đời trẻ thơ”: Khảo sát vòng 2 tại Việt Nam, Báo cáo quốc gia vòng 2, tháng 9/2008 (PDF file 382.6 KB)

Kathy Attawell, Trudy Harpham, Nguyễn Thị Vân Hà, Nguyễn Thu Hương, Phạm Thị Lan, Bill Tod, Tống Thị Dua, Trần Đức Thạch, Trần Tuấn (2004), Báo cáo kết quả sơ bộ vòng 1: Việt Nam, Báo cáo kết quả sơ bộ chương trình nghiên cứu “Những cuộc đời trẻ thơ”, Đại học Oxford, Anh (PDF file 1.8 MB)